vantrantu
20-11-2003, 16:17
(Tài liệu về chầu văn xin mời bạn gửi tại đây: Chầu văn - một nét văn hóa thành Nam (http://namdinhonline.net/forum/showthread.php?p=2497))
"Tết về thành Nam xao xác tâm tư với những cơn xá Chầu văn lên đồng nửa mê, nửa tỉnh, nửa người, nửa tiên. Và thật dễ dàng lạc lối trong câu thơ Nguyễn Bính. Bằng một cách chơi màu xanh độc đáo, nhà thơ của thành Nam quét loang cái màu xanh mơ mộng ra cả một bức tranh giòn tan tiếng nguyệt và lảnh lót chầu văn: "Mùa Xuân là cả một màu xanh - Giời ở trên cao gió ở cành - Lúa ở đồng tôi và lúa ở đồng nàng và lúa ở đồng anh". Cái giới từ "ở" trong bài "Mùa Xuân xanh" đầy quyến rũ này của Nguyễn Bính dường như xác nhận cái địa chỉ dân dã, cái vùng đất mộc mạc ở góc phía Nam tam giác châu thổ Bắc vừa phì nhiêu đồng lúa, vừa dập dờn biển bạc với những đồng muối trắng. Và gió, mơn man gió lành trong tiết Xuân tới Phủ Giầy nơi bà chúa Liễu Hạnh - một trong tứ bất tử của tôn giáo Việt - hiển linh. Nhấp một ngụm rượu xứ Nam, có cảm giác nóng ran khi bài Chầu văn tới độ nhập đồng, nhập cốt, mới thấy cuộc bộ hành "chân quê" của "thi sĩ đồng quê" họ Nguyễn thật ngang tàng, thật quả cảm luồn qua bao thị thành, bao cám dỗ dung tục của một đời sống đô hội tiêu dùng. Cuộc bộ hành chấp nhận bi kịch dằn vặt quyết không chịu dấn thân, đánh mất mình vào thế giới đồ vật chật chội, để trở về đắm chìm trong thiên nhiên mơ mộng "Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh - Tôi đợi người yêu đến tự tình - Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy - Bắt đầu là cái thắt lưng xanh" .(Theo Văn hiến Việt nam)
Có thể bây giờ, chầu văn không còn được phổ biến, nhưng chắc chắn trong mỗi trái tim Thành Nam nói chung và những người Nam Định xa quê nói riêng, sẽ không thể không xốn xang lòng mỗi khi nghe câu hát chầu văn. �Chấn thủ Nghệ An í..i..ông hoang Mười chấn thủ Nghệ An í..i..về huyên Yên Bàn làm quan đất Phủ Giầy. Cứu nước thù đời lưỡi gươm thiêng í.i..lưỡi gươm thiêng đánh đông dẹp bắc việc ngoài, việc ngoài binh nhung. Một đấng anh hùng tuổi thanh xuân í..i..một đáng anh hùng tài danh nổi tiếng khắp trời Nam í..i...Nặng gánh cương thường hai vai í..i..nặng gánh cương thường...�
Ai đó còn mơ hồ thì hãy cùng tôi tìm hiểu sơ lược về loại hình nghệ thuật này:
Hát văn hay còn gọi là hát chầu văn. Chầu văn là loại hình ca nhạc chuyên sử dụng trong các nghi lễ thờ cúng ở các đền miếu xưa, đặc biệt là khi ngồi đồng. Nhạc cụ dùng trong hát văn gồm đàn Nguyệt, trống đế, thanh la và phách. Người ca sĩ được gọi là cung văn, thông thường là người vừa hát giỏi, vừa biết nhiều làn điệu, vừa biết chơi nhạc cụ. Hát văn là một hình thức hát thờ, hát trong khi ngồi đồng nên các làn điệu và lối hát cũng phụ thuộc vào cuộc lên đồng. Mở đầu buổi lên đồng, cung văn hát điệu sai quan tướng, điệu này tiết tấu nhanh, gấp; sau đó khi đồng nhập thì hát chầu văn thờ để ca ngợi công tích hay sự tích các thánh, sau đó chuyển hát dọc để kích thích khả năng thăng thoát của người ngồi đồng, điệu này nhạc dồn dập, tưng bừng. Khi nhân vật đã nhập vai các thánh và �làm việc thánh� thì chuyển điệu còn là điệu thức cao hơn dọc một cung bậc. Tuy nhiên khi người ngồi đồng vào vai thánh nào thì người hát phải chuyển giọng theo ngôi thánh đó cho phù hợp (nhận biết ngôi vị này qua cách phục trang trong giá chầu).
Hát văn và hầu bóng một (cách gọi khác của ngồi đồng) có thể có nguồn gốc từ văn hoá ca múa nhạc tôn giáo của người Chăm nên trong các điệu thức của hát văn cũng có điệu hát giàn (điệu hát của người Chăm). Mặt khác cung văn khi hát cũng phải hát sao cho thể hiện tâm lý tình cảm của các nhân vật nên giọng hát phải chuyển đổi luôn luôn. Vì thế mà chỉ trong một thể hát thì cũng có nhiều dạng khác nhau: thể phú thì có phú dựng, phú chênh để diễn tả tâm trạng vui, phú rầu để diễn tả tâm trạng buồn. Những khi thay đổi như thế thì âm nhạc đều chuyển điệu thức 5 âm để phụ họa theo. Nói chung hát văn không chỉ khó mà còn đòi hỏi cung văn phải nhanh, linh hoạt để vừa có thể chuyển lời, giọng và nhạc cho ăn khớp mà vẫn hay, vẫn sát vai của người ngồi đồng, lại vẫn thể hiện được tài năng riêng của mỗi cung văn.
Nếu như không khí, nhịp điệu trong ca trù thính phòng là êm đềm, réo rắt, bổng trầm thì không khí, nhịp điệu trong hát văn ngược lại hẳn. Nó mang tính chất sôi nổi, kích động cộng với trống phách, thanh la rộn ràng làm cho buổi hầu đồng luôn trong không khí tưng bừng.
Lời văn trong hát văn cũng phổ từ thơ ca dân gian, đôi khi vay mượn cả trong các tác phẩm văn thơ bác học và thường là thể lục bát, lục bát biến thể, thất ngôn, bốn chữ. Nội dung thường là kể về công tích, kỳ tích cũng như sự tích các thánh thần, vì thế mà giai điệu của hát văn khi thì mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập, khoẻ khoắn vui tươi. Với tính chất này hát văn ngày nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi dùng trong nghi lễ mà hát văn cũng được coi như một hình thức ca nhạc dân gian vui tươi lành mạnh và đưa ra công diễn trước đông đảo quần chúng, bước đầu đã có những thành công đáng kể.
Lâu lắm rôi chưa có dịp về lại Nam Định,chẳng biết những điệu chầu văn quê mình còn không!
"Tết về thành Nam xao xác tâm tư với những cơn xá Chầu văn lên đồng nửa mê, nửa tỉnh, nửa người, nửa tiên. Và thật dễ dàng lạc lối trong câu thơ Nguyễn Bính. Bằng một cách chơi màu xanh độc đáo, nhà thơ của thành Nam quét loang cái màu xanh mơ mộng ra cả một bức tranh giòn tan tiếng nguyệt và lảnh lót chầu văn: "Mùa Xuân là cả một màu xanh - Giời ở trên cao gió ở cành - Lúa ở đồng tôi và lúa ở đồng nàng và lúa ở đồng anh". Cái giới từ "ở" trong bài "Mùa Xuân xanh" đầy quyến rũ này của Nguyễn Bính dường như xác nhận cái địa chỉ dân dã, cái vùng đất mộc mạc ở góc phía Nam tam giác châu thổ Bắc vừa phì nhiêu đồng lúa, vừa dập dờn biển bạc với những đồng muối trắng. Và gió, mơn man gió lành trong tiết Xuân tới Phủ Giầy nơi bà chúa Liễu Hạnh - một trong tứ bất tử của tôn giáo Việt - hiển linh. Nhấp một ngụm rượu xứ Nam, có cảm giác nóng ran khi bài Chầu văn tới độ nhập đồng, nhập cốt, mới thấy cuộc bộ hành "chân quê" của "thi sĩ đồng quê" họ Nguyễn thật ngang tàng, thật quả cảm luồn qua bao thị thành, bao cám dỗ dung tục của một đời sống đô hội tiêu dùng. Cuộc bộ hành chấp nhận bi kịch dằn vặt quyết không chịu dấn thân, đánh mất mình vào thế giới đồ vật chật chội, để trở về đắm chìm trong thiên nhiên mơ mộng "Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh - Tôi đợi người yêu đến tự tình - Khỏi luỹ tre làng tôi nhận thấy - Bắt đầu là cái thắt lưng xanh" .(Theo Văn hiến Việt nam)
Có thể bây giờ, chầu văn không còn được phổ biến, nhưng chắc chắn trong mỗi trái tim Thành Nam nói chung và những người Nam Định xa quê nói riêng, sẽ không thể không xốn xang lòng mỗi khi nghe câu hát chầu văn. �Chấn thủ Nghệ An í..i..ông hoang Mười chấn thủ Nghệ An í..i..về huyên Yên Bàn làm quan đất Phủ Giầy. Cứu nước thù đời lưỡi gươm thiêng í.i..lưỡi gươm thiêng đánh đông dẹp bắc việc ngoài, việc ngoài binh nhung. Một đấng anh hùng tuổi thanh xuân í..i..một đáng anh hùng tài danh nổi tiếng khắp trời Nam í..i...Nặng gánh cương thường hai vai í..i..nặng gánh cương thường...�
Ai đó còn mơ hồ thì hãy cùng tôi tìm hiểu sơ lược về loại hình nghệ thuật này:
Hát văn hay còn gọi là hát chầu văn. Chầu văn là loại hình ca nhạc chuyên sử dụng trong các nghi lễ thờ cúng ở các đền miếu xưa, đặc biệt là khi ngồi đồng. Nhạc cụ dùng trong hát văn gồm đàn Nguyệt, trống đế, thanh la và phách. Người ca sĩ được gọi là cung văn, thông thường là người vừa hát giỏi, vừa biết nhiều làn điệu, vừa biết chơi nhạc cụ. Hát văn là một hình thức hát thờ, hát trong khi ngồi đồng nên các làn điệu và lối hát cũng phụ thuộc vào cuộc lên đồng. Mở đầu buổi lên đồng, cung văn hát điệu sai quan tướng, điệu này tiết tấu nhanh, gấp; sau đó khi đồng nhập thì hát chầu văn thờ để ca ngợi công tích hay sự tích các thánh, sau đó chuyển hát dọc để kích thích khả năng thăng thoát của người ngồi đồng, điệu này nhạc dồn dập, tưng bừng. Khi nhân vật đã nhập vai các thánh và �làm việc thánh� thì chuyển điệu còn là điệu thức cao hơn dọc một cung bậc. Tuy nhiên khi người ngồi đồng vào vai thánh nào thì người hát phải chuyển giọng theo ngôi thánh đó cho phù hợp (nhận biết ngôi vị này qua cách phục trang trong giá chầu).
Hát văn và hầu bóng một (cách gọi khác của ngồi đồng) có thể có nguồn gốc từ văn hoá ca múa nhạc tôn giáo của người Chăm nên trong các điệu thức của hát văn cũng có điệu hát giàn (điệu hát của người Chăm). Mặt khác cung văn khi hát cũng phải hát sao cho thể hiện tâm lý tình cảm của các nhân vật nên giọng hát phải chuyển đổi luôn luôn. Vì thế mà chỉ trong một thể hát thì cũng có nhiều dạng khác nhau: thể phú thì có phú dựng, phú chênh để diễn tả tâm trạng vui, phú rầu để diễn tả tâm trạng buồn. Những khi thay đổi như thế thì âm nhạc đều chuyển điệu thức 5 âm để phụ họa theo. Nói chung hát văn không chỉ khó mà còn đòi hỏi cung văn phải nhanh, linh hoạt để vừa có thể chuyển lời, giọng và nhạc cho ăn khớp mà vẫn hay, vẫn sát vai của người ngồi đồng, lại vẫn thể hiện được tài năng riêng của mỗi cung văn.
Nếu như không khí, nhịp điệu trong ca trù thính phòng là êm đềm, réo rắt, bổng trầm thì không khí, nhịp điệu trong hát văn ngược lại hẳn. Nó mang tính chất sôi nổi, kích động cộng với trống phách, thanh la rộn ràng làm cho buổi hầu đồng luôn trong không khí tưng bừng.
Lời văn trong hát văn cũng phổ từ thơ ca dân gian, đôi khi vay mượn cả trong các tác phẩm văn thơ bác học và thường là thể lục bát, lục bát biến thể, thất ngôn, bốn chữ. Nội dung thường là kể về công tích, kỳ tích cũng như sự tích các thánh thần, vì thế mà giai điệu của hát văn khi thì mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập, khoẻ khoắn vui tươi. Với tính chất này hát văn ngày nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi dùng trong nghi lễ mà hát văn cũng được coi như một hình thức ca nhạc dân gian vui tươi lành mạnh và đưa ra công diễn trước đông đảo quần chúng, bước đầu đã có những thành công đáng kể.
Lâu lắm rôi chưa có dịp về lại Nam Định,chẳng biết những điệu chầu văn quê mình còn không!